Daily Archives: 13/04/2020

Thuốc Lenvatinib kết hợp Pembrolizumab cho hiệu quả cao và an toàn trong điều trị ung thư

Trong một thử nghiệm giai đoạn II, sự kết hợp của Thuốc Lenvatinib (Lenvaxen) và pembrolizumab (Keytruda) đã chứng minh là cho hiệu quả cao hơn và an toàn cho điều trị ung thư.

Nghiên cứu bao gồm 124 bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào thận (RCC), ung thư nội mạc tử cung, ung thư biểu mô tế bào vảy ở đầu và cổ (SCCHN), khối u ác tính, ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) và ung thư đường niệu. Điểm kết thúc chính là tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) ở tuần 24. Điểm cuối thứ cấp là một số người tham gia với các tác dụng phụ không mong muốn điều trị, sống sót không tiến triển (PFS), sống sót chung, thời gian đáp ứng (DOR), bệnh tỷ lệ kiểm soát, tỷ lệ bệnh ổn định lâu bền và tỷ lệ lợi ích lâm sàng.

Phản ứng tốt nhất đã được quan sát trong đoàn hệ RCC. Trong số 19 bệnh nhân mắc RCC được đánh giá, ORR là 63% (95 CI, 43% -80,1%) ở tuần 24 và tăng lên 70% (95 CI, 50,6% -85,3%) ở 21 trên 30 bệnh nhân tại thời điểm đó cắt dữ liệu. DOR trung vị trong đoàn hệ này là 20,0 tháng (95% CI, 9.0-22.8 tháng) và PFS trung vị là 19.8 tháng (95% CI, 9,9-24,1 tháng).

Trong 12 bệnh nhân được đánh giá từ đoàn hệ ung thư nội mạc tử cung (n = 23), ORR 24 tuần là 52% (KTC 95%, 30,6% -73,2%). DOR trung vị không đạt được trong nhóm này (95% CI, 2,6 tháng để không thể đánh giá [NE]). PFS trung vị đạt được ở bệnh nhân ung thư nội mạc tử cung là 9,7 tháng (95% CI, 4,2 tháng-NE).

Các đoàn hệ khối u ác tính bao gồm 21 bệnh nhân, 10 trong số đó được đánh giá cho các điểm cuối chính. Đoàn hệ này có ORR 24 tuần và ORR tổng thể là 48% (95% CI, 25,7% -70,2%). DOR trung vị là 12,5 tháng (95% CI, 2,7 tháng-NE) và PFS là 5,5 tháng (95% CI, 2,6-15,8 tháng).

Tám trong số 22 bệnh nhân từ đoàn hệ SCCHN được đánh giá cho điểm cuối ORR 24 tuần, là 36% (KTC 95%, 17,2% -59,3%). ORR tổng thể là 46% ở 10 trong số 22 bệnh nhân (95% CI, 24,4% -67,8%). Đoàn hệ này có DOR trung vị là 8.2 tháng (95% CI, 2.2-12.6 tháng) và PFS trung vị là 4.7 tháng (95% CI, 4.0-9.8 tháng).

Có 21 bệnh nhân mắc NSCLC trong nghiên cứu, 7 trong số đó được đánh giá cho ORR 24 tuần. Trong đoàn hệ này, ORR sau 24 tuần là 33% (95% CI, 14,6% -57,0%). DOR trung vị là 10,9 tháng (95% CI, 2,4 tháng-NE) và PFS trung vị là 5,9 tháng (95% CI, 2,3-13,8 tháng).

 

Một ORR 25% ở tuần 24 đã đạt được trong đoàn hệ ung thư niệu (95% CI, 8,7% -49,1%), bao gồm 5 bệnh nhân có thể đánh giá được trong số 20. DOR trung bình trong đoàn hệ này không đạt được (95% CI, 6,5 tháng-NE) và PFS trung vị là 5,4 tháng (95% CI, 1,3 tháng-NE).

 

Tại thời điểm cắt dữ liệu, tỷ lệ bệnh nhân mắc RCC (30%), ung thư nội mạc tử cung (30%), khối u ác tính (10%), SCCHN (14%), NSCLC (29%), ung thư đường niệu (15%) vẫn đang được điều trị.

Phản ứng hoàn toàn và một phần xảy ra ở 47% tổng số bệnh nhân (n = 65). Ngoài ra, tất cả các đoàn hệ đều giảm kích thước khối u do điều trị.

Taylor MH và cộng sự đã tìm thấy những dữ liệu này đầy hứa hẹn dựa trên bằng chứng trước đó với cả hai loại thuốc là đơn trị liệu và so sánh với dữ liệu được quan sát với các tác nhân tương tự.

Các nhóm thuần tập, ORR dao động từ 25% đến 70%, với các phản ứng có lợi nhất được thấy ở những bệnh nhân mắc RCC (70%), ung thư nội mạc tử cung (52%) và u ác tính (48%). Những tỷ lệ đáp ứng đáng khích lệ này đặc biệt thú vị khi được xem trong bối cảnh kết quả thử nghiệm lâm sàng với lenvatinib hoặc pembrolizumab được dùng dưới dạng đơn trị liệu cho bệnh nhân mắc các loại khối u này. Đơn trị liệu Lenvatinib cho kết quả ORR là 27% trong điều trị RCC bậc hai trong một nghiên cứu được báo cáo trước đây. Thử nghiệm Keynote 427 đã đánh giá pembrolizumab là liệu pháp đầu tay ở những bệnh nhân mắc RCC tế bào rõ ràng tiên tiến cho thấy ORR là 34%. Ngoài ra, tỷ lệ đáp ứng trong thử nghiệm của chúng tôi đối với bệnh nhân mắc RCC rất hứa hẹn so với tỷ lệ đáp ứng của các kết hợp ức chế kiểm soát miễn dịch tyrosine kinase / miễn dịch được phê duyệt gần đây, các tác giả đã viết.

Phần lớn bệnh nhân trong nghiên cứu (97%) đã trải qua các tác dụng phụ liên quan đến điều trị (TRAEs). Các TRAES phổ biến nhất trên tất cả các cấp lớp là mệt mỏi (58%), tiêu chảy (52%), tăng huyết áp (47%), suy giáp (42%) và giảm sự thèm ăn (39%). Sáu mươi bảy phần trăm bệnh nhân trải qua TRAEs độ 3/4, trong đó phổ biến nhất là tăng huyết áp (20%), mệt mỏi (12%), tiêu chảy (9%), protein niệu (8%) và tăng mức lipase (7%) .

85% bệnh nhân đã giảm liều điều trị bằng lenvatinib hoặc ngừng điều trị do TRAEs. Lenvatinib đã ngừng sử dụng ở 13% bệnh nhân và pembrolizumab đã ngừng sử dụng ở 15% bệnh nhân. Liều pembrolizumab cũng được hạ xuống ở 45% bệnh nhân do kết quả của TRAEs.

 

Nhìn chung, 21 bệnh nhân đã chết trong nghiên cứu, với 2 trường hợp tử vong liên quan đến điều trị. Một trong số những bệnh nhân này đã ở trong đoàn hệ NSCLC và bị xuất huyết phổi và người còn lại nằm trong đoàn hệ ung thư đường niệu và bị chết vì xuất huyết tiêu hóa.

Để đăng ký vào nghiên cứu pha II, bệnh nhân được yêu cầu mắc bệnh có thể đo được, tình trạng hoạt động ECOG từ 0 đến 1, huyết áp được kiểm soát đầy đủ (HA) có hoặc không có thuốc hạ huyết áp, và chức năng thận đầy đủ, chức năng tủy xương, chức năng đông máu và chức năng gan. Một số cá nhân cũng bị loại khỏi nghiên cứu do các bệnh và nhiễm trùng có thể đã can thiệp điều trị bằng lenvatinib hoặc pembrolizumab, hoặc vì họ đã điều trị chống ung thư trước trong vòng 28 ngày kể từ lần đầu tiên nghiên cứu.

Các nhà điều tra nghiên cứu đã kết luận từ nghiên cứu này rằng sự kết hợp của lenvatinib và pembrolizumab có hiệu quả và dung nạp được đối với những bệnh nhân có khối u rắn tiên tiến được chọn. Nhiều nghiên cứu pha III đã được đưa ra để tiếp tục nghiên cứu này

Bài viết liên quan:

https://thuocchuabenhtri.org/tham-my-rang-ho/

https://thuocchuabenhtri.org/phong-va-chua-benh-tri-cho-doi-tuong-ke-toan/

 

Published by: