Daily Archives: 11/08/2020

Chẩn đoán và điều trị đa u tủy xương

ĐA U TỦY XƯƠNG

1.         ĐẠI CƯƠNG

Đa u tủy xương và các rối loạn khác của tương bào là một nhóm bệnh được đặc trưng bởi mất cân bằng trong quá trình tăng sinh của các tế bào. Các tế bào này bình thường có chức năng tổng hợp và thải trừ các globulin miễn dịch. Tại Hoa Kỳ, đa u tủy xương có tỷ lệ mắc hàng năm là 4/100.000 dân. Đỉnh cao của tỷ lệ mắc trong độ tuổi 60-70. Ở Việt Nam, theo ghi nhận UNG THƯ của Hà Nội, tỷ lệ mắc đa u tủy xương chuẩn theo tuổi là 0,1/100.000 dân, là loại UNG THƯ hiếm gặp. Cho tới nay người ta vẫn chưa biết được căn nguyên gây bệnh này.

2.         CHẨN ĐOÁN VÀ TIÊN LƯỢNG

2.1.      Chẩn đoán xác định

Chẩn đoán xác định đa u tủy xương cần thiết phải có bằng chứng vể tổ chức học chứng minh tăng số lượng tương bào non (thường >10%) hoặc hình ảnh tương bào bất thường, không điển hình, chưa trưởng thành kết hợp với có protein M trong huyết thanh hoặc nước tiểu hoặc có tổn thương tiêu xương đặc trưng. Ở một số trường hợp đa u tương bào của xương xuất hiện xen kẽ với các vùng tủy xương bình thương. Đối với các bệnh nhân này chọc hút hoặc sinh thiết tủy xương có thể mang lại kết quả âm tính giả, cần thiết phải tiến hành sinh thiết đúng vùng tổn thương để xác định chẩn đoán.

2.2.      Chẩn đoán giai đoạn

Bảng 1. Chẩn đoán giai đoạn

Giai đoạn

Tiêu chuẩn

Số lượng tế bào u tủy (tế bào/m2)

1

Bao gổm các tiêu chuẩn sau:

1- Hemoglobin >10g/dl

2- Hàm lượng canxi huyết thanh bình thường ( 12mg/dl))

3- Hình ảnh x-quang xương bình thường hoặc tổn thương đơn độc dạng u tương bào

4- Tỷ lệ protein M thấp

a- Hàm lương IgG < 5g/dl

b- Hàm lượng IgA < 3g/dl

c- Thành phần chuỗi nhẹ protein M niệu trên điện di < 4g/24h

<0,6 x 1012(thấp)

II

Trung gian giữa I và III

0,3 x 1012 – 1,2 x 1012

III

Có ít nhất một trong các tiêu chuẩn sau:

1- Hemoglobin < 8,5g/dl

2- Hàm lượng canxi huyết > 12mg/dl

3- Tổn thương tiêu xương lan tỏa

4- Tỷ lệ protein M cao

a- IgG >7g/dl

b- IgA >5g/dl

c- Thành phần chuỗi nhẹ protein M niệu trên điện di > 12g/24h

> 1,2 x 1012 (cao)

* Hai nhóm phụ cho tất cả các giai đoạn

A: creatinin huyết thanh < 2mg/dl

B: creatinin huyết thanh  2mg/dl

2.3.      Tiên lượng

Thiếu máu nặng, tăng hàm lượng canxi huyết, tổn thương xương lan tỏa và tỷ lệ protein M cao, suy thận, tuổi cao, thể trạng yếu, tăng LDH huyết thanh là các yếu tố tiên lượng xấu của bệnh. Nồng độ β2 – microglobulin huyết thanh có liên quan tới mức độ bệnh trong đa u tủy xương nhưng lại ít giá trị trong theo dõi cho bệnh nhân. Hàm lượng β2 – microglobulin thường xuyên giảm xuống khi bệnh đáp ứng với điều trị và có thể tăng lên khi bệnh tái phát nhưng nó không tương hợp với protein M niệu hoặc huyết thanh trong đánh giá tiến triển của bệnh.

3.         ĐIỀU TRỊ

Không phải tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán đa u tủy xương đều có chỉ định điều trị. Đặc biệt ở nhóm bệnh nhân đa u tủy thể nhẹ (protein M > 3g/dL hoặc trên 10% tương bào ở tủy xương nhưng không có tổn thương tiêu xương, không thiếu máu, không tăng canxi huyết) hoặc các bệnh nhân không có triệu chứng lâm sàng, không có chỉ định điều trị do các bệnh nhân này có thể ổn định bệnh trong một thời gian dài.

  • Tăng đơn dòng protein trong huyết tương hoặc nước tiểu là dấu hiệu cho thấy cần điều trị trong thời gian ngắn, trong khi các dấu hiệu thiếu máu, tổn thương tiêu xương, suy thận, tăng canxi máu, tổn thương ngoài tủy là những dấu hiệu chỉ định điều trị.
  • Trong trường hợp chỉ định điều trị chưa rõ ràng, tốt nhất nên đánh giá lại bệnh nhân sau 2 tháng và trì hoãn điều trị cho tới khi bệnh tiến triển.
  • Với bệnh nhân dưới 70 tuổi, lợi ích của điều trị ghép tủy nên được đưa ra cân nhắc trước khi quyết định điểu trị cho bệnh nhân. Và việc huy động tế bào gốc cần được thực hiện trước khi bệnh nhân được điều trị bằng các thuốc alkyl hóa.

Đối với các bệnh nhân đa u tủy xương chưa điều trị, hóa trị giúp đạt hiệu quả lui bệnh khác nhau nhưng chỉ có tỷ lệ rất nhỏ đạt lui bệnh hoàn toàn. Việc đánh giá đáp ứng hóa trị chủ yếu dựa vào hiệu quả cải thiện lâm sàng, xét nghiệm giảm trên 50% nồng độ protein M trong huyết tương và nước tiểu. Thời gian sống dài hơn ở các bệnh nhân có đáp ứng (43 tháng so với 19 tháng trong một nghiên cứu gồm 243 bệnh nhân).

Việc lựa chọn điều trị ban đầu phụ thuộc chủ yếu vào khả năng bệnh nhân sẽ được điều trị ghép tủy hay không. Với các bệnh nhân có khả năng sẽ được điều trị ghép tủy, việc thu thập tế bào nguồn ngoại vi sẽ đạt hiệu quả cao nhất nếu bệnh nhân chưa được hóa trị alkyl hóa trước đó. Do đó với nhóm bệnh nhân này, hóa trị bước đầu nên sử dụng là các phác đồ không có thuốc alkyl hóa như: thalidomide và dexamethason (thal/dex) hoặc dexamethason đơn thuần, Thuốc VercyteThuốc Anagrelide 0.5mg 

Ngược lại, hóa trị với các thuốc alkyl hóa lại ưu thế sử dụng hơn đối với nhóm bệnh nhân đa u tủy xương có triệu chứng nhưng không có chỉ định điều trị ghép tủy do tuổi cao, thể trạng chung kém, mắc các bệnh lý phối hợp. Phác đồ MP (Mephalan và Prednisolon) hoặc phác đồ MPT (mephalan, prednisolon và Thalidomid) là các phác đồ hay được sử dụng nhất cho nhóm bệnh nhân này.

Tác giả bài viết: Dược Sĩ Đỗ Thế Nghĩa, Đại Học Dược Hà Nội, CEO: Mua Thuốc 24h

Tham khảo thêm các bài viết: 

Các bài thuốc dân gian trị yếu sinh lý hiệu quả ở các đấng mày râu

Chia sẻ những ưu điểm sử dụng bấm huyệt trị mất ngủ

Published by:

Viêm gan ở bệnh nhân tất cả những điều cần biết

Hỏi: Viêm gan là gì?

Trả lời: Viêm gan là tình trạng viêm gan. Tình trạng có thể tự giới hạn hoặc có thể tiến triển thành xơ hóa (sẹo), xơ gan hoặc ung thư gan. Virus viêm gan là nguyên nhân gây viêm gan phổ biến nhất trên thế giới nhưng các bệnh nhiễm trùng khác, các chất độc hại (ví dụ như rượu, một số loại thuốc) và các bệnh tự miễn cũng có thể gây viêm gan.

Có 5 loại virus viêm gan chính, được gọi là loại A, B, C, D và E. 5 loại này là mối quan tâm lớn nhất vì gánh nặng bệnh tật và cái chết mà chúng gây ra và khả năng bùng phát và dịch bệnh lan rộng. Đặc biệt, loại B và C dẫn đến bệnh mãn tính ở hàng trăm triệu người và cùng với nhau, là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra bệnh xơ gan và ung thư.

Viêm gan A và E thường gây ra do ăn phải thức ăn hoặc nước bị ô nhiễm. Viêm gan B, C và D thường xảy ra do tiếp xúc qua đường tiêm với chất dịch cơ thể bị nhiễm bệnh. Các phương thức lây truyền phổ biến đối với các loại vi-rút này bao gồm nhận máu hoặc các sản phẩm máu bị ô nhiễm, các thủ tục y tế xâm lấn sử dụng thiết bị bị ô nhiễm và lây truyền viêm gan B từ mẹ sang con khi sinh, từ thành viên gia đình sang trẻ em và cả qua quan hệ tình dục.

Nhiễm trùng cấp tính có thể xảy ra với giới hạn hoặc không có triệu chứng, hoặc có thể bao gồm các triệu chứng như vàng da (vàng da và mắt), nước tiểu sẫm màu, mệt mỏi cực độ, buồn nôn, nôn và đau bụng.

Hỏi: các loại virus viêm gan khác nhau là gì?

Trả lời: Các nhà khoa học đã xác định được 5 loại virus viêm gan độc nhất, được xác định bằng các chữ cái A, B, C, D và E. Trong khi tất cả đều gây ra bệnh gan, chúng khác nhau theo những cách quan trọng.

Virus viêm gan A (HAV) có trong phân của người nhiễm bệnh và thường lây truyền qua tiêu thụ nước hoặc thực phẩm bị ô nhiễm. Một số thực hành tình dục cũng có thể lây lan HAV. Nhiễm trùng trong nhiều trường hợp là nhẹ, với hầu hết mọi người đã hồi phục hoàn toàn và vẫn miễn dịch với các nhiễm trùng HAV tiếp theo. Tuy nhiên, nhiễm trùng HAV cũng có thể nghiêm trọng và đe dọa tính mạng. Hầu hết mọi người ở các khu vực trên thế giới có điều kiện vệ sinh kém đã bị nhiễm loại virus này. Vắc-xin an toàn và hiệu quả có sẵn để ngăn ngừa HAV.

 

Virus viêm gan B (HBV) lây truyền qua tiếp xúc với máu, tinh dịch và các chất dịch cơ thể khác. HBV có thể được truyền từ mẹ bị nhiễm sang trẻ sơ sinh tại thời điểm sinh hoặc từ thành viên gia đình sang trẻ sơ sinh. Sự lây truyền cũng có thể xảy ra thông qua truyền máu và các sản phẩm máu bị nhiễm HBV, tiêm nhiễm trong quá trình y tế và thông qua sử dụng thuốc tiêm. HBV cũng gây rủi ro cho các nhân viên y tế, những người bị thương do kim tiêm vô tình trong khi chăm sóc bệnh nhân nhiễm HBV. Vắc-xin an toàn và hiệu quả có sẵn để ngăn ngừa HBV.

Virus viêm gan C (HCV) chủ yếu lây truyền qua tiếp xúc với máu nhiễm trùng. Điều này có thể xảy ra thông qua truyền máu và các sản phẩm máu bị nhiễm HCV, tiêm nhiễm trong quá trình y tế và thông qua sử dụng thuốc tiêm. Lây truyền tình dục cũng có thể, nhưng ít phổ biến hơn nhiều. Không có vắc-xin cho HCV.

Tham khảo thêm về các thuốc điều trị viêm gan C: Thuốc Sofosbuvir và Ledipasvir, Thuốc Sofosbuvir và Velpatasvir

Thuốc Sofuled điều trị viêm gan C

Nhiễm virus viêm gan D (HDV) chỉ xảy ra ở những người bị nhiễm HBV. Nhiễm trùng kép HDV và HBV có thể dẫn đến một bệnh nghiêm trọng hơn và kết quả tồi tệ hơn. Vắc-xin viêm gan B bảo vệ khỏi nhiễm HDV.

Virus viêm gan E (HEV) chủ yếu lây truyền qua việc tiêu thụ nước hoặc thực phẩm bị ô nhiễm. HEV là một nguyên nhân phổ biến của sự bùng phát viêm gan ở các khu vực đang phát triển trên thế giới và ngày càng được công nhận là nguyên nhân quan trọng gây bệnh ở các nước phát triển. Vắc-xin an toàn và hiệu quả để ngăn ngừa nhiễm HEV đã được phát triển nhưng không được phổ biến rộng rãi.

Tác giả bài viết: Dược Sĩ Đỗ Thế Nghĩa, Đại Học Dược Hà Nội, CEO: Mua Thuốc 24h

Tham khảo thêm các bài viết liên quan:

Thuốc điều trị vi khuẩn hp dạ dày

Khuẩn HP – Tác nhân gây hại cho dạ dày chớ xem thường

Published by: